Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

Điểm yếu chí tử của Đồng bằng sông Cửu Long

     Dòng thời sự nông nghiệp chủ lưu hiện nay là sự yếu kém của hạ tầng giao thông đang cản trở năng lượng phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Giao thông chính là điểm yếu chí tử khiến miền Tây mắc kẹt trong cái nghèo.


Có một thực tế được cuộc sống đúc kết thành qui luật, hễ nơi nào đường xá  thông suốt thì cuộc sống nơi đó có cơ hội thịnh vượng. Ngược lại, nơi giao thông ách tắc thì cầm chắc nghèo túng, lạc hậu. Khỏi phải nói thêm, điều này chắc chắn đúng với ĐBSCL.

        Đường bộ chưa thông

        Trong một bài giảng với chủ đề Làm thế nào để ĐBSCL bớt tụt hậu? TS. Vũ Thành Tự Anh kể rằng, khi ông hỏi GS. Võ Tòng Xuân, vào những năm 1960-1970, thời gian GS đi từ Sài Gòn đến Cần Thơ giảng bài hết bao lâu. GS. Võ Tòng Xuân cho biết, mất khoảng 4 tiếng rưỡi.
         Đối chiếu thực tế những năm gần đây, gần nửa thế kỷ đã qua, ông Tự Anh ái ngại, "tốc độ giao thông giữa ĐBSCL tới các trung tâm kinh tế - thương mại lớn nhất của cả nước chưa được cải thiện bao nhiêu".
         Thật ra, chuyện giao thông ở ĐBSCL lạc hậu như thế nào không quá khó để nhận thấy. Hơn thế, điều này cũng được thông báo công khai trong nhiều cuộc hội thảo tại địa phương. Cụ thể, ĐBSCL chỉ có 5% đường nông thôn có giá trị vận tải, số còn lại chỉ có giá trị giao thông cho dân đi bộ, đi xe đạp và xe gắn máy. 95% đường còn lại cần được mở rộng và nâng cấp.
         Quanh 13 tỉnh miền Tây chằng chịt sông rạch, cù lao vẫn còn hàng trăm cây cầu xây từ đầu thế kỷ 20 đến nay vẫn chưa được thay thế.  Để có thể lưu thông, người dân vẫn phải tận dụng những cầu ọp ẹp. Trên nhiều tuyến quốc lộ huyết mạch vẫn còn không ít những cây cầu đang khai thác có tải trọng chỉ khoảng 4 đến 10 tấn, và đang hư hỏng nặng, đi xe thô sơ còn khó nói chi đến xe tải vận chuyển hàng hoá.
         Quan sát của GS. Võ Tòng Xuân, một người gần gũi với vùng này cũng cho biết, miền Tây ít nơi có đường rộng 5m, chủ yếu là đường đất, vài nơi cố lắm cũng chỉ trải đá mi. Hệ thống quốc lộ xây mới chưa nhiều, chiều rộng cũng khiêm tốn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của vùng. Ví dụ, quốc lộ 50 đi qua tỉnh Tiền Giang do Bộ GTVT đầu tư cũng chỉ được thiết kế rộng 7,5m, thay vì 12m.
Ảnh minh họa: báo Đại Đoàn Kết
            Ông Nguyễn Văn Sơn, chuyên viên của Trung tâm nghiên cứu Phát triển ĐBSCL cũng nghĩ như vậy. "Đường đi lại ở ĐBSCL giờ chỉ có giá trị nông thôn chứ không có giá trị vận tải. Hạ tầng giao thông của ĐBSCL yếu kém nhất nước, chỉ xếp trên vùng Tây Bắc", ông Sơn- người thường xuyên qua lại vùng ĐBSCL trước và sau thời điểm 1975 nhận xét.
             Và hệ luỵ là việc đi lại học hành, việc cấp cứu trị bệnh, việc tiếp cận với các cơ sở văn hoá... và mưu sinh cũng đều gặp khó khăn. Chi phí vận tải hàng hoá tăng dẫn đến nông sản bị ép giá, nông sản hư hao do phải chờ... Từ những thông tin được công bố rộng rãi, ông Sơn nhẩm tính, nếu gộp toàn bộ chi phí cơ hội, nông dân ĐBSCL có thể phải chi đến 15% thu nhập cho đi lại và cho chuyên chở hàng hoá. Điều đó khiến cho họ chưa "mở mày mở mặt".

Đường sông vẫn tắc

             Là vùng trọng điểm sản xuất nông sản hàng hoá xuất khẩu, ước tính, hàng năm ĐBSCL có nhu cầu xuất - nhập khẩu từ 12 tới 13 triệu tấn hàng hoá. Nhưng thật éo le, trong khi đường bộ chưa thông thì đường sông của vùng này cũng đang xập xệ.
             Hệ thống giao thông thủy của miền Tây với hai tuyến chính là TPHCM - Kiên Lương và TPHCM - Cà Mau... nhưng do địa hình nên buộc phải hợp lưu tại kênh Chợ Gạo (nối sông Tiền ở Tiền Giang với sông Vàm Cỏ Tây ở Long An.
              Trong khi 13 tỉnh miền Tây đang chen chúc dùng chung tuyến đường sông duy nhất đi TP. Hồ Chí Minh và ngược lại thì cửa luồng Định An cũng không khá hơn. Do mấy chục năm qua chỉ tập trung khai thác mà không bảo dưỡng nên trước sự bồi lắng phù sa, cửa Định An đang bị cạn khiến các tàu hàng hải lớn không vào được thành ra 70% khối lượng hàng hoá vẫn phải nhập nhờ qua TP. Hồ Chí Minh.
             Lưu thông vòng vèo khiến lợi nhuận từ việc bán nông sản hàng hoá thấp đi do bị ép giá trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào thì không ngừng đội lên. Thua thiệt đủ đường khiến nhà nông lãnh đủ, dồi dào năng lượng mà vẫn trong nhóm nghèo nhất nước.

Tắc đường do tắc tư duy?

             Trước những phàn nàn về sự trắc trở của hệ thống giao thông ĐBSCL, giới phân tích chính sách cho rằng không phải do thiếu tiền mà là do ách tắc trên hệ thống tư duy.
             Lấy giá trị sử dụng làm căn cứ, ông Nguyễn Văn Sơn dẫn chứng, liệu có công bằng không khi sông Hồng qua địa phận Hà Nội, sông Hàn ở Đà Nẵng có bao nhiêu cây cầu, trong khi 7 tỉnh nam sông Hậu chỉ có duy nhất cây cầu Mỹ Thuận (khánh thành năm 2000), và gần chục tỉnh khác chung cây cầu Cần Thơ (khánh thành năm 2010). Cứ thử đo giá trị sử dụng của những cây cầu đó sẽ thấy ngay nghịch lý không công bằng. Rõ ràng so với năng lực phát triển, ĐBSCL cần nhiều hơn 2 cây cầu đó.
           Ông Sơn ước, nếu nhà nước dành cho chừng 10% kinh phí dự kiến làm đường sắt cao tốc Bắc Nam như đã thảo luận trong QH thì chắc chắn toàn ĐBSCL sẽ thay đổi nhanh bộ mặt kinh tế xã hội trong vòng mười năm. Đầu tư cho giao thông cấp huyện là mở lối ra cho nông dân và hàng hoá tiếp cận với thị trường, mở cánh cửa giáo dục và đào tạo cho thanh thiếu niên; Đầu tư cho giao thông cấp tỉnh là mở mối giao lưu kinh tế xã hội của các huyện về trung tâm tỉnh; Đầu tư cho giao thông cấp tỉnh là mở mối giao lưu kinh tế xã hội của tỉnh với các tỉnh lân cận và cả nước, lẫn quốc tế; Và, đầu tư cho giao thông nông thôn là giải quyết đồng bộ nền tảng cho phát triển đồng bộ sản xuất kinh doanh và đời sống của nông dân.
            Trước sự hối thúc của phát triển, mới đây thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố, "chính phủ tiếp tục có sự quan tâm đặc biệt cho ĐBSCL, trong đó sẽ có những chính sách thuận lợi, ưu đãi đặc biệt để khu vực này chuyển mình nhanh chóng. Chính phủ đã quyết định đầu tư nhiều dự án lớn nhằm nhanh chóng tăng cường cơ sở hạ tầng tạo điều kiện kết nối cho cả vùng. Xác định đưa ĐBSCL là trung tâm năng lượng lớn của cả nước trong tương lai". Dù sao muộn cũng còn hơn không. Đây là quả là thông tin đáng mừng.
            Xem ra tư duy đã thông, vấn đề chỉ còn chờ xem chỉ đạo của thủ tướng sẽ được các cấp triển khai như thế nào.
Theo

      Tác giả: THU HÀ 

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Ước mơ một Cheonggyecheon của Sa Đéc

Tại Hàn Quốc:   

Tháng 7-2003, ông Lee Myung-bak, cựu Tổng thống Hàn Quốc, khi ấy là Thị trưởng Seoul, khởi xướng đề án phục hồi dòng suối Cheonggyecheon trong một dự án khôi phục và chỉnh trang bộ mặt đô thị lớn nhất lịch sử Hàn Quốc cho thành phố 600 năm tuổi này. Đây là một đề án đầy tham vọng vì không chỉ phải gỡ bỏ con đường cao tốc trên cao mà còn phải tái sinh một thủy lộ vốn đã bị san lấp từ lâu.

 Trong tiềm thức của người dân Seoul, con suối Cheonggyecheon chảy từ đông sang tây qua nửa phần phía bắc của Thủ đô là những gì lắng đọng của văn hóa và lịch sử hàng trăm năm. Dưới thời Joseon, Cheonggyecheon đã trở thành một địa điểm vui chơi công cộng, là nơi diễn ra các trò chơi dân gian như: thả diều, chơi đèn hoa sen, trò chơi đánh trận giả… Từ năm 1411, dòng suối giữa lòng đô thị đã được cải tạo, mang biểu tượng cho sự kết hợp hài hòa của tự nhiên và nhân tạo.



      Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, dọc hai bên Cheonggyecheon trở thành các khu ổ chuột được tạo ra bởi người tị nạn đã đổ xô vào Seoul và định cư trên Chonggyechon. 

       Trong giữa những năm 1950, Chonggyechon được coi là một biểu tượng của sự nghèo đói và bẩn thỉu, là di sản của một nửa thế kỷ chiến tranh và chủ nghĩa thực dân. Giải pháp hệ thống cống hở ở trung tâm của thành phố cũng là một trở ngại lớn để tái phát triển của Seoul. Vào thời điểm kinh tế khó khăn cùng cực đó, cách duy nhất để đối phó với vấn đề này là đặt ngầm dòng chảy.
       Dự án đặt ngầm dòng chảy cho Chonggyechon gồm bốn giai đoạn, bắt đầu từ năm 1955 và kết thúc vào năm 1977. Kết quả là một đường cao tốc trên cao được xây dựng trên hầu hết các dòng ngầm của Chonggyechon. Đường cao tốc này rộng  bốn làn đường và dài ba dặm (5864 mét).

     Khi Lee Myung-bak tranh cử cho thị trưởng thành phố Seoul vào năm 2001, một trong những lời hứa của ông là loại bỏ đường cao tốc Cheonggye và khôi phục lại dòng suối để đem lại sức sống mới cho khu vực kinh tế. 
    Mặc dù có một số phản đối từ các doanh nghiệp, nhưng dự án khôi phục lại dòng suối được ủng hộ bởi đại đa số cư dân Seoul. Theo một cuộc khảo sát được thực hiện bởi chính quyền thành phố thì 79,1 phần trăm cư dân ủng hộ kế hoạch này.
    Công cuộc phục hồi dòng suối bắt đầu vào tháng Bảy năm 2003 và được hoàn thành vào tháng Chín năm 2005, vào khoảng thời gian nhiệm kỳ bốn năm của Lee kết thúc. 
    Hàng triệu người đã đến chúc mừng sự phục hồi của dòng suối Cheonggye.



  
  Và ngày nay, dòng suối Chonggyechon là một trong những địa điểm thu hút du khách trong và ngoài nước đông nhất Seoul. đồng thời nó còn trở thành lá phổi xanh cho cả thành phố.

Còn tại Sa Đéc:
    Trước năm 1975, Rạch Cái Sơn còn rất đẹp và nên thơ. Tuy không lộng lẫy, kiêu sa như Chonggyechon nhưng phảng phất đâu đó, ta vẫn thấy được vẻ đẹp mộc mạc, chân thành


   Nhưng kể từ sau khi đổi mới, Rạch Cái Sơn đã thay đổi đến không ngờ. Nguyên nhân là do bàn tay của Tạo hóa hay của Con người ngăn sông đắp đập ?

Hay mong muốn ngầm hóa Rạch Cái Sơn bằng cống hộp như dòng Chonggyechon thuở nào?


    Nhìn một nửa dòng Cái Sơn - Nàng Hai còn lại mà không khỏi ngậm ngùi tiếc nuối!


     Nên hay chăng giữ nguyên trạng dòng Cái Sơn - Nàng Hai như thuở sơ khai. Vừa là tuyến   thủy lộ huyết mạch đồng thời với việc phát triển du lịch cho du khách nước ngoài, vừa giữ lại mảng xanh cho nội ô Sa  Đéc. 

      Đó có phải là cách nhìn xa cho hậu thế sau này?


Tài liệu đã dẫn : http://www.preservenet.com/freeways/FreewaysCheonggye.html



Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

Cáo Tật Thị Chúng



Xuân qua trăm hoa rụng                                                               Trước mắt việc đi mãi

Xuân tới trăm hoa cười                                                                  Trên đầu già tới rồi

                                                                                                                      
                                                                                                                     
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai.

                                                                                                        Thiền sư Mãn Giác

Hãy giữ vững niềm tin, người anh em!




Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Hận Đồ Bàn, tại sao?

Đã lâu rồi không nghe bài hát Hận Đồ Bàn. 


Đến sáng nay thì thấy trên Net có một đoạn hoạt hình nhỏ về trận thủy chiến năm xưa.


                Dân tộc Việt Nam là một dân tộc vững mạnh và tự cường. Chắc chắn sẽ không phải ca lại bài ca Hận Đồ Bàn!

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Hủ Tiếu Vò Viên" Trường Học Sa Đéc "


Nếu ai đã từng là học trò của trường Chuyên Ban Sa Đéc hơn chục năm trước, và cho tới tận bây, cũng đều có dịp thưởng thức một món ăn sáng ngon và rẻ mỗi khi đi học sớm. Đó chính là hủ tiếu bò vò viên trước cổng trường.

Qua bao nhiêu năm rồi, mỗi khi quay lại trường cũ vẫn còn bắt gặp được những hình ảnh thân quen xưa. Vẫn áo dài xe đạp thướt tha. Vẫn các cậu học trò quần xanh áo trắng tụm năm tụm ba, ồn ào mỗi lúc tan trường. Và, vẫn còn đó quán hủ tiếu bò viên với hương vị quen thuộc. Thèm… không cưỡng lại được!

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

Cầu sông Tiền – Tại sao Không?













Cầu sông Tiền
           
           Tại sao Không?












 

















* Sự hình thành cây cầu đầu tiên trên hạ lưu sông Mekong - Mỹ Thuận
         (Cầu Mỹ Thuận - Khởi công: 06/7/1997; Hoàn thành: 21/5/2000 )
Đây không phải lần đầu tiên cầu Mỹ Thuận được nhắc đến, và cũng không phải lần đầu tiên việc xây cầu được khởi công.
Thật vậy, cầu Mỹ Thuận được nghĩ tới lần đầu tiên vào cuối thập niên 1950, sau khi chủ quyền quốc gia được thu hồi từ tay người Pháp năm 1955 và Ủy ban Quốc tế Mekong được thành lập năm 1957।
Ủy ban Quốc tế Mekong; gồm 4 thành viên là Lào, Thái Lan, Kampuchea, và Nam Việt Nam; đề ra các nguyên tắc căn bản để bảo đảm rằng không một quốc gia thành viên nào có thể cản trở lưu lượng dòng chính, thủy vận, và việc sử dụng sông Mekong (1). Do đó, dự án xây cầu Mỹ Thuận của Việt Nam phải có sự đồng ý của các thành viên khác của Ủy ban Quốc tế Mekong. Lúc đó, Việt Nam đề nghị xây cầu Mỹ Thuận với một tầm gió 25 m, đủ cho tàu bè có trọng tải cao qua lại dễ dàng với một chi phí vừa phải.
Dự án gặp sự chống đối mạnh mẽ của Kampuchea, cho rằng tầm gió 25 m quá thấp và đề nghị nâng tầm gió lên 50 m. Với tầm gió nầy, chi phí của cây cầu tăng vọt quá khả năng của Việt Nam. Qua Ủy ban Quốc tế Mekong, các cuộc thương thảo được dàn xếp với kết quả là Kampuchea bằng lòng với tầm gió 37,5 m, con số trung bình của hai tầm gió mà Việt Nam và Kampuchea đưa ra. Mặc dù hài lòng với tầm gió 37,5 m, Kampuchea vẫn không chịu phê chuẩn dự án cầu Mỹ Thuận. Thế là dự án cầu Mỹ Thuận đầu tiên đã chết trong trứng nước.
Khoảng giữa thập niên 1960, để chuẩn bị cho “Chương trình Tái thiết và Phát triển Hậu chiến,” Việt Nam đơn phương tiến hành dự án cầu Mỹ Thuận. Các công ty nổi tiếng của nhiều quốc gia được mời tham dự vào dự án bằng cách gửi đồ án sơ khởi để được cứu xét. Hãng kỹ sư cố vấn Nippon Koei của Nhật Bản đã được chọn lựa và đã hoàn thành đồ án cầu Mỹ Thuận vào năm 1965. Theo đồ án nầy, cầu Mỹ Thuận nầy có lối kiến trúc cổ điển, với nhịp chính bằng sắt tương tự như các cầu lớn của ĐBSCL như cầu sắt Bến Lức và Tân An. Tiếp theo đó, công tác xây cất cầu tiến triển chậm vì nhiều lý do, mà quan trọng nhất là an ninh và tài chánh. Mãi đến năm 1970, công tác xây cầu Mỹ Thuận mới thật sự được khởi công. Công trường Cầu Mỹ Thuận, trực thuộc Bộ Công chánh và Giao thông, được thành lập để phụ trách công tác xây cầu. Một số công tác đáng kể đã được thực hiện, mà điển hình là giải tỏa lộ giới và đấp nền đường dùng cho việc xây cất cầu cũng như cho đường dẫn vào cầu trong tương lai. Dự án cầu Mỹ Thuận thứ nhì nầy cũng không khá hơn lần đầu, chỉ triển khai đến tháng 4 năm 1975 thì chấm dứt.
Như vậy, có thể nói dự án hiện nay là dự án thứ ba cho công cuộc xây cất cầu Mỹ Thuận, được khơi dậy qua lời yêu cầu trợ giúp của Việt Nam gửi cho Úc Đại Lợi vào năm 1993. Ngay trong năm sau, 1994, thủ tướng Úc, ông Paul Keating thuộc đảng Lao Động, đã cam kết cho việc xây cầu.
Sau nhiều lần thay đổi do nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, ngày 06/7/1997, cầu Mỹ Thuận được khởi công xây dựng và hoàn thành vào ngày 21/5/2000 .Sớm hơn 2 tháng so với dự kiến.

+ Các đặc tính kỹ thuật cơ bản của Cầu Mỹ Thuận:
Dầm cầu: cấu tạo bê tông Dự Ứng Lực Grade 50, gồm 2 dầm biên, các dầm ngang, bản mặt cầu thi công theo phương pháp đúc hẫng.Dầm biên cao 1760mm rộng 1200-1400mm, bản mặt cầu dày 250mm. Dầm biên được treo bằng 4 x 32 bó cáp, mỗi bó gồm từ 22 đến 69 tao 15,2mm, mỗi tao gồm 7 sợi đặt trong ống HPDE có màu để trang trí. Mỗi bó cáp một đầu neo vào dầm, đầu neo vào tháp, có dự trữ hệ thống chống rung cho cáp.
Tháp cầu: hình chữ H bằng bê tông cốt thép Grade 50 cao 123,5 m (tính từ đỉnh bệ cọc); 84,43m (tính từ mặt cầu). Kết cấu móng trụ tháp gồm 16 cọc khoan nhồi có đường kính 2,5m hạ đến cao độ -90m ( tháp bờ Bắc) và -100m (tháp bờ Nam), cao độ đáy bệ phần đặc là + 1m, ống vách đặt tới cao độ -35m (tháp bờ Bắc) và -40m (tháp bờ Nam).
Hệ cáp dây văng: Sơ đồ bố trí dây văng cầu Mỹ Thuận theo hình rẻ quạt (semi-hanp) với hai mặt phẳng dây cách nhau 18.6m. Các cặp dây văng (thượng, hạ lưu) được bố trí đối xứng qua mặt phẳng thẳng đứng đi qua ti dọc của cầu. Góc nghiêng của dây văng so với phương nằm ngang nhỏ nhất (dây văng ngoài cùng) là 31.031o, và lớn nhất (dây văng gần tháp cầu nhất của nhịp biên) là 77.39o. Dây văng ngoài cùng của hai nhịp biên được liên kết với hệ dầm cầu tại điểm cách tim trụ neo 5,0m về phía cầu dẫn.
Toàn cầu có 128 dây văng chia thành 8 nhóm, mỗi nhóm có 16 dây. Dây văng ngoài cùng nhịp biên có số tao lớn nhất (68 tao), dây văng thuộc nhíp chính gằn tháp cầu nhất có số tao nhỏ nhất (22 tao). Các tao cáp kiểu Freyssinet 7 sợi, đường kính danh định 15,2mm.
* Sự cần thiết phải có thêm Cầu sông Tiền mới :
Phát triển cao tốc – Kết nối Đông Tây
Nhằm khắc phục sự trì trệ trong phát triển kinh tế xã hội các tỉnh châu thổ sông Mekong, đồng thời, với việc nâng cao khả năng vận tải đường bộ giữa các tỉnh Tây Nam Bộ với Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung, dự án đường cao tốc Sài gòn – Cần thơ đã hoàn thành giai đoạn đầu: tuyến Sài gòn – Trung Lương.
Để tuyến đường cao tốc này thông suốt đến Cần Thơ thì tất nhiên là phải dùng cầu đường bộ vượt sông Tiền và sông Hậu. Vấn đề đặt ra là tuyến cao tốc này có nên sử dụng chung hai cầu vượt sông Mekong hiện hữu trên Quốc lộ 1A là cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ hay không?
Đứng ở góc độ kết nối giao thông thì câu trả lời là được.
Tuy nhiên, với chiều rộng 21,5m gồm 4 làn xe cơ giới 2 x 8m, hai làn xe thô sơ 2 x 2m ở cầu Mỹ Thuận hiện nay thì vấn đáp ứng việc lưu thông thông suốt của các phương tiện vận tải từ Đường cao tốc và QL 1A qua cầu sẽ gặp nhiều khó khăn.
Do vậy, yêu cầu có thêm một cây cầu mới để chia tải với cầu Mỹ Thuận, cũng như có tác dụng dự phòng là một vấn đề cần phải tính đến khi phát triển đường cao tốc ở khu vực này, cả đường bộ cao tốc lẫn đường sắt cao tốc.
Cho nên, Cơ quan Xúc tiến thương mại và đầu tư Nhật Bản đã tài trợ một dự án nghiên cứu cây cầu mới song hành với cầu Mỹ Thuận. Theo đó, dự án xây dựng cây cầu đang được nghiên cứu sẽ kết nối với tuyến đường cao tốc từ TP.HCM về Cần Thơ. Và ban quản lý dự án Mỹ Thuận đã đề nghị cần tính đến xây dựng cầu hai tầng, gồm một tầng đường bộ và một tầng dành cho đường sắt cao tốc TP.HCM - Cần Thơ sẽ được xây dựng sau này.
Ngày 17-10 – 2010, theo ông Dương Tuấn Minh - tổng giám đốc Ban quản lý dự án Mỹ Thuận, liên doanh tư vấn Nippon Koei và IHI (Nhật) đệ trình báo cáo đầu kỳ dự án đầu tư xây dựng cầu Mỹ Thuận mới nối qua sông Tiền ở địa phận tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long.
Cầu qua sông Tiền mới, song hành cầu Mỹ Thuận, rất cần thiết!
Nhưng, tại sao chúng ta chuẩn bị xây cất một cây cầu mới vượt sông Tiền lại gần cầu Mỹ Thuận đến như vậy?
Đó cũng chính là điều băng khuân của Bộ GTVT khi đề nghị xem xét phương án xây dựng cầu vượt sông Tiền mới. Theo Bộ GTVT,tính luôn cầu dành cho đường sắt cao tốc thì trong khoảng 700 m có tới 3 cầu lớn bắc qua sông Tiền nên cần phải phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính, cũng như tính toán tới các yếu tố xã hội, ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Tiền Giang mà đặc biệt là chia cắt quy hoạch của thành phố Vĩnh Long.
Như các bạn đã biết, kinh phí của những cây cầu vượt sông Tiền hay sông Hậu có giá trị rất lớn. Và trên hết, những cây cầu này chính là cánh của mở ra cho sự phát triển đồng đều của toàn vùng Châu thổ sông Mekong.
Vậy nên, bằng việc lựa chọn vị trí xây cầu, chúng ta sẽ giúp tạo một động lực phát triển lớn cho những vùng đất ít phát triển khác nằm phía nam sông Tiền, và xa hơn đó là cánh đồng bao la phía nam sông Hậu.
Điều đó có nghĩa:
Cuộc sống tốt hơn sẽ đến cùng với sự phát triển।
Bạn có đồng ý không?

Tài liệu đã dẫn:
(1) Nguyen, Dieu T. 1999. The Mekong River and the Struggle for Indochina: Water, War, and Peace. Praeeger: Westport, Connecticut.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Sa Đéc – cầu nối Đông và Tây Nam bộ

Đây là vùng đất có người Việt cư ngụ khá sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù mãi đến năm 1757 vùng đất này mới thuộc chủ quyền người Việt. Sau cuộc hôn nhân ngoại giao giữa công nương Ngọc Vạn (con chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên) với quốc vương Chân Lạp (Chey Chettha II), 1620, vùng đất này được người Việt biết đến qua các đợt chi viện quân sự kỹ thuật, kinh tế...của chúa Nguyễn Phước Nguyên cho chàng rể bằng đường thủy từ Nước Mặn (Quy Nhơn) vào sông Tiền đến kinh đô Uđông. Trên đường thủy vận, Sa Đéc là nơi dừng chân nhiều lần của phái bộ, đã được Christopho Borri tường thuật trong Relation des la nouvelle misson des pères de la Compagnie de Yésus au Royaume de Cochinchine, năm 1631.

Vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, từ Vĩnh Long ngược lên đến Châu Đốc được thổ dân Khmer gọi là Tầm Phong Long (đọc trại đi từ Kompong Luông). Slà kompong có nghĩa là vũng, bến chỗ tấm ven sông, Luông là vua.

Năm 1757, Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh thay mặt chúa Nguyễn, tiếp thu vùng đất Tầm Phong Long và chia thành ba đạo:

- Đạo Châu Đốc ở Hậu Giang,

- Đạo Tân Châu ở Tiền Giang,

- Đạo Đông Khẩu ở xứ Sa Đéc.

Đông Khẩu đạo là tên hành chính trên giấy tờ, trong dân gian vẫn quen dùng tên cũ, Sa Đéc. Tên Sa Đéc có từ lâu trước năm 1757. Và tên gọi này, có nhiều giả thuyết khác nhau:

- Trong sách Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo), phần Tự quán (tr. 38-39), có chép:

"Chùa Tô Sơn ở địa phận thôn Hưng Nhượng, huyện Hà Dương (tỉnh An Giang), phía tây núi có viên đá hình con rùa। Người xưa truyền rằng: gặp khi trời hạn thì đến đấy cầu đảo ắt có được mưa, thổ nhơn bèn lập đền ở chân núi đế thờ, gọi là Sa Đéc (tức là Thủy thần)"। Phải chăng hai âm /Sa Đéc/ xuất phát từ âm của chữ Khmer hạ, có nghĩa là thủy dân hoặc là tên của vị thủy thần đó।

Trong khi đó trong dân gian còn lưu truyền cân chuyện sau: Ngày xưa ở đất Tầm Phong Long có một tên chúa đất họ Thạch, vừa giàu có,vừa hung ác. Đất đai cò bay thẳng cánh, con thỏ, con nai ở trong rừng; con cá, con tôm ở dưới sông, con chim ở trên trời... tất cả đều là của họ Thạch. Chúa đất họ thạch giàu có như vậy mà chỉ có mỗi một mụn con gái. Tên nàng là Sa-đéc, xinh đẹp, tính tình nhân hậu. Một hôm, nàng dùng ghe lườn cùng nàng hầu rong chơi trên sông tiền, chẳng may gặp mưa to gió lớn, ghe bị chìm. Trong lúc chủ tớ đang loai ngoai chờ chết bỗng đâu có một thanh niên lao xuống cứu được cả hai.

Sa Đéc không cho chàng trai biết mình là con gái của chúa đất. Từ đó hai người thường lén lút gặp nhau. Bọn thuộc hạ cho tên chúa đất biết chuyện này. Lập tức hắn nhốt nàng lại và lệnh cho tìm bắt chàng trai nọ cho kỳ được. Bọn thủ hạ truy lùng chàng trai, chàng nhanh chân thoát được, nhưng trúng phải tên độc. Tưởng chàng đã chết, chúng bỏ đi. Nhưng may mắn, chàng được một người đi rừng tình cờ cứu sống. Chàng giữ lại mũi tên có khắc chữ Thạch để mưu tính chuyện trả thù. Ngày nọ, chàng đột nhập vào dinh cơ tên chúa đất, đốt phá cho đã nư, rồi bắt hắn mang đi Bỗng Sa-đéc thấy được, tri hô lên. Đám thuộc hạ ùa tới giải vây cho chủ. Chàng trai quá đỗi sững sờ, ngạc nhiên khi thấy nàng ở đây. Lợi dụng giây phút đó, đám thuộc hạ bắt được chàng và tra tấn rất dã man. Nghĩ rằng tại mình nên người yêu cũng là ân nhân mới gặp nạn, nàng đau đớn ngất lịm đi.

Khi được tin chàng trai bị cột chặt vào bè, rồi phóng hỏa đốt thả trôi sông, nàng Sa-đéc vùng dậy chạy theo nhảy xuống bè để cùng chết chung với chàng, nhưng bị thuộc hạ phóng theo bắt lại.

Sa-đéc bỏ nhà đi tu. Vài năm sau, tên chúa đất họ Thạch qua đời. Nàng trở thành người thừa kế một sản nghiệp đồ sộ của dòng họ Thạch một phần tài sản được nàng chia cho dân nghèo, phần còn lại dùng vào việc đắp đường, bồi lộ, dựng cầu và xây một nhà lồng chợ để cho người mua, kẻ bán có chỗ che nắng trú mưa.

Ngôi chợ đó được gọi là chợ Sa-đéc đến ngày nay. Còn nàng thì được nhân dân kính cẩn tôn lên hàng nữ thần. Tương truyền nàng rất linh thiêng, nhân dân cầu xin điều gì cũng đều được linh ứng. Đền thờ thủy thần Sa Đéc trên núi Cô Tô với chuyện này không biết có liên hệ gì với nhau không? song cả hai đều liên quan đến tên gọi Sa Đéc.

- Trong Gia Định thành công chí (tập hạ) của Trịnh Hoài Đức (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo), mô tả chợ Sa Đéc như sau: "Chợ ở đông huyện Vĩnh An. Phố chợ dọc theo bờ sông, nhà cửa nối nóc nhau san sát như vảy cá kéo dài đến 5 dặm, dưới sông có những nhà bè, gác làm phòng ốc, đậu sát nhau thành hàng, hoặc bán hàng lụa, khí dụng ở Nam Bắc chở đến, hoặc bán dầu rái, than, mây tre... Trên bờ và dưới sông hàng hóa tốt đẹp, trông khá vui vẻ, thật là nơi thắng địa phồn hoa vậy". Như vậy rõ ràng Sa Đéc quả thật là một chợ nổi, nổi tiếng trên sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phải chăng chính vì vậy mà người Khmer gọi là Phsa ădek (có nghĩa là chợ nổi) và người Việt phát âm thành Sa Đéc?

- Do sự trùng âm /Sa Đéc/ với Phsa dek, có nghĩa là chợ sắt nên cũng có giải thích cho rằng Sa Đéc là chợ bán đồ sắt hay chợ được xây dựng bằng sắt. Giả thuyết này ít thuyết phục vì đến nay chưa phát hiện thông tin nào để minh chứng rằng chợ này chuyên bán đồ sắt. Còn giả thuyết nhà lồng chợ được xây bằng sắt, nên mang tên chợ sắt, cũng không ổn, vì nhà lồng chợ Sa Đéc được xây dựng bằng sắt theo kiến trúc Effel mới được nhà cầm quyền thực dân xây dựng vào đầu thế kỷ xx và hầu hết các chợ lớn ở Nam kỳ đều xây dựng theo kiến trúc này chứ không riêng vì chợ Sa Đéc.

Trong hai thế kỷ khai hoang mở cõi Nam bộ, Sa Đéc đóng một vai trò hết sức quan trọng nhờ vào vị trí của mình: nằm trên ngã tư đường giao lưu từ Chân Lạp ra biển Đông, từ miền Đông xuống miền Tây Nam bộ. Sự phồn thịnh của Sa Đéc vào thế kỷ XVIII được Trịnh Hoài Đức mô tả ở trên không phải ngẫu nhiên mà có. Trong thời điểm này, Hà Tiên, Nông Nại đại phố quá xa đối với đồng bằng sông Cửu Long, hơn nữa sự phồn thịnh của cù lao Phố từng bước nhường cho Sài Gòn. Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè nằm bên kia sông Tiền cũng đang trên đà phát triển; còn riêng Sa Đéc vừa ăn thông sang miệt Hậu Giang vừa là cửa ngõ của Đồng Tháp Mười với nguồn lâm thủy sản dường như vô tận vừa lại là đầu cầu sang Chân Lạp. Có thể khẳng định, hồi này Sa Đéc chỉ đứng sau Sài Gòn và là trung tâm kinh tế ở đồng bằng sông Cửu Long.

Sự ra đời và phát triển của chợ Sa Đéc là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình kinh tế xã hội khu vực nó đánh dấu sự thành công cửa công cuộc khai hoang lập ấp, mở ruộng, lập vườn với lúa gạo, cây trái dồi dào, cá tôm phong phú, đồng thời là điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển một loại hình kinh tế mới, nói theo kiểu bây giờ là "kinh tế thị trường", dù chỉ là hàng hóa tiêu dùng, không tái sản xuất. Sa Đéc vừa là trung tâm sản xuất, vừa là trung tâm thu gom, tập kết lúa gạo, lâm thủy sản, hàng hóa địa phương, dùng phương tiện đường thủy chuyên chở đến bán tận Sài Gòn, Nam Vang và nhiều nơi khác, rồi thu mua hàng hóa các nơi này về bán lại cho địa phương. Sa Đéc quả là một chợ đầu mối ở đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm cho đào kinh Ruột Ngựa (Mã Trường giang) từ vàm Rạch Cát ăn thông với rạch Lò Gốm, góp phần nâng cao trọng tải và rút ngắn thời gian giao lưu từ đồng bằng sông Cửu Long về Sài Gòn.

Năm 1775, chúa Nguyễn Phước Thuần chạy vào nam mở màn cho cuộc chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh trên đất Gia Định suốt mười mấy năm là một biến cố lớn, có tác động không nhỏ đối với tiến trình kinh tế xã hội của vùng đất mới này. Sa Đéc nằm trên hành lang từ Sài Gòn đến đồng Tháp Mười - Tam Phụ (Ba Giồng) qua Trấn Giang rồi Kiên Giang ra vịnh Thái Lan. Đó là con tường tiến thoái của Nguyễn Ánh trong suốt thời gian giành quyền làm chủ đất Gia Định với Tây Sơn mà vùng bờ bắc sông Tiền đóng vai trò như một đầu cầu nối liền Sa Đéc với Ba Giồng, một bàn đạp áp sát Sài Gòn.

Trong thời gian này, ngoại trừ những năm tháng tái chiếm đóng Sài Gòn và lưu vong ở Xiêm, Nguyễn Ánh thường dùng Sa Đéc vừa như một địa bàn dừng chân trước khi trốn ra hải đảo, vừa như một bàn đạp để hưng binh tái chiếm Sài Gòn. Mãi đến tháng 7-1787, lúc lưu vong ở Xiêm La, được tin anh em Tây Sơn mâu thuẫn gay gắt đem binh đánh giết lẫn nhau, Đô đốc Đặng Văn Trấn kéo binh về Qui Nhơn cứu Nguyễn Nhạc, Gia Định do Nguyên Lữ - một thầy tu năng lực kém cỏi so với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ trấn giữ- Nguyễn Ánh liền rời Bangkok về Hòn Tre, cho người về đất liền thám thính, móc nối với cơ sở cũ, có nhiều người hưng binh hưởng ứng. Tháng 8, Nguyễn Ánh về đóng ở Long Xuyên (Cà Mau), cho người về Sa Đéc xây dựng căn cứ. Tháng 10, Nguyễn Ánh về Sa Đéc, đại bản doanh đóng ở thôn Tân Long (sau đổi thành Long Hưng) cạnh rạch Hồi Oa (Nước Xoáy). Để bảo vệ bản doanh, Nguyễn Ánh cho dân quân xây dựng hai bảo (thành) bằng đất án ngữ phía sông Tiền nằm tại thôn Long Thắng gọi là Bảo Tiền, án ngữ mặt sông Hậu tọa lạc ở thôn Phong Hòa tục danh là Bảo Hậu. Nguyễn Ánh còn huy động dân binh lấy đá từ núi Sâm (Châu Đốc) để cẩn mặt ngoài các bảo và đắp đập (hàn) rạch Cái Bàng (thôn Hòa Long) và sông Long Hậu để ngăn chặn chiến thuyền của Tây Sơn. Giao cho Hoàng Văn Khánh, Tống Văn Ngoạn giữ Bảo Tiền và Nguyễn Văn Trương, Tô Văn Đoài giữ Bảo Hậu. Quân Tây Sơn tiến đánh suốt mấy ngày liền, cuối cùng Nguyễn Ánh cho chế súng gỗ dùng hột cau khô kết làm đạn mới đẩy lui được quân Tây Sơn.

Từ đại bản doanh ở Sa Đéc, Nguyễn Ánh cho Tôn Thất Huy, Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Nguyễn Kế Thuận mang quân về trấn giữ đất Ba Giồng làm thế ỷ giốc, xong chia quân đánh phá các nơi. Tháng 7-1788, Nguyễn Ánh dời bộ tham mưu về Ba Giồng. Đến tháng 8, Nguyễn Ánh chiếm lại được Sài Gòn, cơ bản làm chủ toàn bộ đất Gia Định.

Trong cuộc chiến này, Sa Đéc cung cấp cho Nguyễn Ánh nhiều tướng tài hết dạ trung kiên ngay trong thời kỳ khó khăn nhất như Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Văn Nhàn, Hoàng Bưu Phước, Nguyễn Văn Bế, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Định... Trong bốn Tổng trấn Gia Định thành vào đầu triều Nguyễn, thì Sa Đéc cung cấp hai vị: Nguyễn Văn Nhơn và Nguyễn Văn Tuyên.

Ở Sa Đéc không có trận đánh nào lớn, ít chịu sự tàn phá của chiến tranh, đó cũng là một điều kiện thu hút một số thương buôn người Hoa kinh hoàng, khiếp sợ Tây Sơn trước những cuộc tiến quân của họ ở cù lao Phố năm 1776 và Sài Gòn 1782. Trong chiến tranh, họ là người cung cấp cho Nguyễn Ánh những hàng hóa cần thiết, góp phần phát triển Sa Đéc, trong khi cù lao Phố, Hà Tiên suy thoái. Từ năm 1789, chiến tranh lùi dần ra miền ngoài, tạo điều kiện khách quan cho kinh tế Gia Định phục hồi và phát triển. Trong và sau chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, Sa Đéc đón nhận thêm nhiều đợt lưu dân mới cùng với binh sĩ Tây Sơn tan rã tại chỗ. Nên không lạ gì khi thấy tốc độ và diện tích khẩn hoang ở đây nhanh hơn và nhiều hơn các nơi khác. Điều kiện khách quan thuận lợi đất lành chim đậu, đất tốt dân đông biết thâm canh làm thủy lợi với Mương Đào (tức Cái Bè cạn), rạch Cai Bường, nước chảy thông thương từ sông Tiền đến sông Hậu. Lấp Vò, Cái Dầu (Định Yên), Long Hậu lần hồi phát triển thành một trung tâm dân cư quan trọng của Sa Đéc sát sông Hậu. Ở mặt sông Tiền từ Cái Tàu Thượng trở xuống là khu dân cư trù mật, người Hoa cùng người Việt làm ruộng rẫy, trao đổi mua bán ... hình thành các tụ điểm Hội An, Tòng Sơn, Đất Sét Cái Tàu Hạ góp phần làm nên sự phồn thịnh của Sa Đéc. Dưới thời nhà Nguyễn, vùng này thuộc huyện Vĩnh An, phủ Tân thành, tỉnh An Giang. Phủ lỵ và huyện thị đều đóng tại thôn Vĩnh Phước (chợ Sa Đéc). Tại đây bên cạnh đình chùa của người Việt có nhiều cơ sở tín ngưỡng của người Hoa. Chùa Ông là các miếu thờ Ông Bổn, tức Bổn đầu công Trịnh Hòa, người mở đường cho người và văn hóa Hoa sang các nước Đông Nam Á bằng đường biển. Còn chùa Bà là các miếu thờ bà Thiên hậu thánh mẫu (Ngươn quân), vị nữ thần cứu hộ người đi biển. Cơ sở có kiến trúc đặc biệt là chùa ông Quách, gọi như thế vì cơ sở này thờ Quách Thánh vương (Quảng Trạch tôn vương). Người Hoa ở Sa Đéc có quan hệ mật thiết với người Hoa ở Chợ Lớn, Singapore, Kuala Lum-pur, Bangkok...

Dưới thời Pháp thuộc, phủ Tân Thành trở thành hạt rồi tỉnh Sa Đéc gồm 3 quận (Châu Thành, Cao Lãnh và Lai Vung), với 5 tổng và 70 làng. Sa Đéc được mệnh danh là "Jardin de Cochinchine” với ruộng vườn cây trái sum suê của vùng sông sâu nước chảy. Nguyễn Liên Phong, một nhà thơ đương thời, có bài Sa Đéc cảnh thi như sau:

Có danh thời cựu phủ Tân Thành,

Sa Đéc vui nay cảnh thích tình.

Đèn Vĩnh Phước ngời hình nguyệt chói,

Cồn Tân quy nổi dạng cù doanh.

Nhà dân phố chợ nhiều nơi lịch,

Chùa Phật, đình Thần lắm chỗ xinh.

Vườn ruộng ấm no phong tục tốt

Nhờ Cao hoàng đế thuở trấn binh.

Chẳng những thế, Sa Đéc còn nổi tiếng với nghề sản xuất gạch ngói, làm nữ trang... đã từng đại diện Việt Nam nhiều lần tham dự các cuộc đấu xảo ở Marseilles. Sa Đéc còn là một trong những cái nôi của cải lương Nam bộ với André Thận.

Khi thực dân Pháp tiến hành khai thác vùng Hậu Giang, Cần Thơ lần hồi thay thế vai trò trung tâm đồng bằng sông Cửa Long của Sa Đéc. Tuy vậy Sa Đéc vẫn giữ vai trò là chợ đầu mối trong khu vực với nhiều chành, nhiều vựa duy trì mối quan hệ mật thiết với Mỹ Tho, Sài Gòn, Nam Vang...

Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Sa Đéc chẳng những là nơi dừng chân của một số nhà yêu nước trên đường hoạt động như: Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Nguyễn Sinh Huy, Phan Bội Châu, Đặng Thúc Liêng, Hà Huy Giáp, Châu Văn Liêm... mà còn cung cấp các phong trào yêu nước nhiều nhân vật nổi tiếng như Lưu Văn Lang, anh hùng Phan Văn Út (dùng lựu đạn ám sát Thiếu tướng Chanson, ủy viên Cộng hòa Pháp, tư lệnh quân đội Pháp ở Nam phần và Thủ hiến Nam phần Việt Nam Thái Lập Thành), cô giáo Ngài, Trần Thị Nhượng (người Phụ nữ duy nhất trong nước, cầm đầu đoàn biểu tình vào dinh tỉnh trưởng Sa Đéc giành chánh quyến trong Cách mạng tháng Tám năm 1945)...

Ngày nay, mặc dù nằm lọt thỏm giữa một số đô thị, vốn là thị xã, nay đã lên cấp thành phố, như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên và Cao Lãnh, song, thị xã Sa Đéc với thế đất và lòng người như đã khái quát ở trên, rồi đây sẽ vươn lên xứng đáng với tầm vóc vốn có của mình ở đồng bằng sông Cửu Long.

Tạp chí Xưa và Nay số 354 tháng 4 năm 2010 (tr.12 và tr.29-31)

Theo ( www.thuviendongnai.gov.vn )